Vân tay học là gì ?

Vân tay học là một phái học thuộc của nhánh pháp y học chuyên nghiên cứu về các đặc điểm, cấu tạo hoa văn của các đường vân trên da bàn tay.

Người đặt nền móng ngành Vân tay học?

Francis Galton (1822 – 1911) là cháu của nhà sinh vật học nổi tiếng thế giới Chales Darwin, ông là người tiên phong nghiên cứu vân tay học, đặt nền móng cho nền khoa học nghiên cứu vân tay.

– Năm 1883, ông xuất bản cuốn sách rất nổi tiếng “ Nghiên cứu về tài năng và sự phát triển của loài người ” thông qua nghiên cứu về các chủng vân tay của 9.000 người suốt 6 năm.

– Năm 1892, ông tập hợp hệ thống lại các nghiên cứu khoa học của mình để xuất bản cuốn sách “Vân Tay Học” với 3 luận điểm quan trọng :

+          Vân tay của một người cả đời sẽ không thay đổi.

+         Vân tay có thể phân biệt được là của người này với người khác.

+          Vân tay có thể phân loại chia thành 3 nhóm chính “vân xoáy, vân móc, vân sóng”.

Francis Galton đã nâng tầm nghiên cứu của Faulds lên thành cơ sở khoa học thông tin là Phân loại và mã hóa vân tay, có quy luật, thứ tự sắp xếp các thông tin của mười ngón tay.

Vân tay của mỗi cá nhân có giống nhau không?

Xác xuất hai cá nhân – kể cả anh em ( hoặc chị em) sinh đôi cùng trứng có cùng một bộ dấu vân tay là 1 trên 64 tỉ. Những ngón tay trên cùng bàn tay cũng có đường vân khác nhau. Các bác sĩ tiến hành phẫu thuật thay da ngón tay nhưng sau một thời gian dấu vân tay lại được hồi phục như ban đầu.

Dấu vân tay hình thành ra sao?

– Năm 1880, Henry Fault đưa ra cơ sở lí luận về số lượng vân tay RC (Ridge Count) để đánh giá các mức độ phụ thuộc của dấu vân tay vào di truyền gen.

Dấu vân tay của thai nhi được hình thành nhờ vào sự kế thừa của gen di truyền, tác động của môi trường thông qua hệ thống mạch máu, hệ thống thần kinh nằm giữa hạ bì và biểu bì của da ngón tay.

Giai đoạn khi thai nhi trong bụng mẹ từ 6 – 8 tuần tuổi các dấu vân tay đã được khởi tạo. Đầu tiên là lớp đệm được hình thành trước tùy theo kích cỡ, vị trí của lớp đệm mà sẽ quyết định hình dạng kiểu vân tay là dạng hình vòm, hình móc hoặc hình tròn.

Khi thai nhi được 3 tháng tuổi thì dấu vân tay bắt đầu nổi rõ và hình thành, hoàn thiện đầy đủ vào lúc 6 tháng tuổi.

– Năm 1868 nhà bác học Roberts đưa ra khẳng định rằng mỗi ngón tay có môi trường phát triển vi mô khác nhau nên mười ngón tay không ngón nào giống ngón nào, người sinh đôi cùng trứng tuy có bộ dấu vân tay khá giống nhau nhưng có thể phân biệt của riêng từng người.

– Năm 1968, nhà bác học Holt đã chứng minh được rằng có thể dự đoán được tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người, từ hệ thống gen di truyền riêng biệt mà đóng góp vào việc hình thành một con người cụ thể.

Thế kỷ XIX, Richard Edward Henry của Cơ quan an ninh Anh đã ứng dụng vân tay học để phân loại và nhận dạng dấu vân tay với cơ sở thực nghiệm, độ tin cậy cao. Juan Vucetich đã tạo ra hệ thống phân loại khác dùng cho Tây Ban Nha. Ngày nay, InterPol đã sử dụng cả hai cách phân loại dấu vân tay này. Riêng ở Mỹ có nhiều hệ thống phân loại và xử lý thông tin vân tay nhưng vẫn đảm bảo được chia thành ba kiểu chính là vân tay hình xoáy tròn, vân tay hình móc, và vân tay hình vòm. Dựa theo đó sẽ quy đổi mỗi kiểu về số đo các góc với độ nghiêng 0, 45, 90 và 135 độ.

Dấu vân tay được sử dụng để nhận dạng cá nhân để làm giấy tờ tùy thân, hội chuẩn những bệnh lý về trầm cảm, bệnh Down và các bệnh do di truyền gen gây ra. Đồng thời giúp phát hiện những tiềm năng của trẻ nhỏ từ rất sớm.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây